Bác sỹ Trung chuyên
cung cấp các thảo dược quý:
+ Cao trà lá vằng, Trà lá vằng
(quảng trị),
+ Cay mat nhan (bach benh): 180 000-200.000 d/kg
+ Tầm gửi gạo (300 000 đồng/kg),
+ Cẩu tích (25 000 đồng/kg);
+ Giảo cổ lam 5 lá Sa Pa (120 000đồng/kg);
Giảo cổ lam 7 lá Sa Pa (180 000/kg);
+ Lá tắm người Dao (loại khô, loại
tươi);
+ Hà thủ ô đỏ (120 000 đồng/kg);
+ Hạt chuối (30 000 - 35000 đồng/kg);
+ Hồng rừng (mát gan, giải độc);
+ Rễ Na rừng
…………………
Chi tiết liên hệ: Bs Trung Lào
Cai ĐT: 0912 523 488 hoặc 01692 855 668
HỒNG
RỪNG
Hồng dại
mọc từ thiên nhiên. Là một loại thảo dược sạch,
quý dùng
để làm đồ uống hàng ngày.
Đồ uống
thơm có vị dịu ngọt.
. Hỗ trợ tiêu độc gan, làm sáng đẹp làn da,
đặc biệt có tác dụng rất tốt đối với những người có men gan
tăng.
Nổi mụn, ban ngứa ngoài da.
. Giải độc rượu - bia.
. Thanh nhiệt, tiểu lợi.
TẦM GỬI CÂY GẠO
+ Công Dụng:
- Mát gan, thải độc cho ngượi bị thận (Viêm cầu
thận).
- Sỏi thận, phù thận, chức năng gan yếu thải độc
men gan
- Tăng thể lực cho người mệt mỏi, gây them ăn,
dễ ngủ, tiêu phù.
Na rừng
Na rừng,
Dây xưn xe, Nắm cơm, Ngũ vị nam - Kadsura
coccinea (Lem) A. C. Smi
(K.chinensis Hance), thuộc họ Ngũ vị -Schisandraceae.
Mô tả: Dây leo to có nhánh mọc trườn, mảnh, phủ lớp lông tuyến màu
sậm, rồi về sau lại có lỗ bì hình dải. Lá bầu dục hay thuôn, dạng góc ở gốc,
thon hẹp, tù, dài 6-10cm, rộng 3-4cm, nhạt màu ở dưới, rất nhẵn. Hoa đơn tính ở
nách lá dài 15mm, rộng 10mm, màu tía. Quả giống như một quả Na to.
Hoa tháng
5-6, quả tháng 8-9.
Bộ phận
dùng: Rễ - Radix
Kadsurae Coccineae.
Nơi
sống và thu hái: Cây của vùng núi cao
Lào Cai (Sa Pa), Hà Tây (Ba Vì) đến Di Linh, Bảo Lộc tỉnh Lâm Đồng. Cũng phân
bố ở Trung Quốc, Lào. Thu hái rễ quanh năm, rửa sạch, thái phiến, phơi khô dùng
dần.
Tính
vị, tác dụng: Rễ có vị cay ấm, hơi
đắng, có hương thơm; có tác dụng hành khí chỉ thống, hoạt huyết, tán ứ, khư
phong tiêu thũng.
Công
dụng: Quả ăn được. Quả rang lên làm thuốc an
thần gây ngủ. Rễ dùng trị: 1. Viêm ruột mạn tính, viêm dạ dày ruột cấp tính,
viêm loét dạ dày và hành tá tràng; 2. Phong thấp đau xương, đòn ngã ứ đau; 3.
Đau bụng trước khi hành kinh, sản hậu ứ đau sưng vú. Liều dùng 15-30g rễ khô
sắc nước uống.
Dân gian
cũng thường dùng vỏ thân, vỏ rễ làm thuốc bổ, kích thích tiêu hoá, giảm đau.
Ngày dùng 8-16 g sắc hoặc ngâm rượu uống.
Chè Vằng –
cây thuốc quý cho sản phụ
Chè vằng có
tên khoa học là Jasminum suptriplinerve Blume, thuộc họ Nhài (Oleaceae. Chè
Vằng là thuốc bổ đắng dùng rất tốt cho phụ nữ đẻ, chè vằng có thể trị nhiễm
khuẩn sau khi sinh, viêm hạch bạch huyết, viêm tử cung, viêm tuyến sữa, bế
kinh, khí hư, thấp khớp, nhức xương.
Cây thuốc được đức mẹ ban tặng
Trong sách Linh Địa La
Vang (1970, trang 35-36) viết: “Theo những lời truyền miệng của các tiền nhân,
thì cách đây gần 200 năm, một biến cố hãi hùng do cuộc cấm đạo hoặc do chiến
tranh gây nên đã khiến một nhóm người Công Giáo ở gần đồn Dinh Cát (nay tỉnh
Quảng Trị) đã chạy vào cánh rừng có nhiều cây Vằng lánh nạn. Trong cơn đói khát
và bệnh tật bỗng nhiên họ thấy một bà đẹp đẽ mặc áo choàng hiện ra gần một cây
Đa đại thụ, mà họ nhận biết ngay là Đức Mẹ Maria. Đức Mẹ ngỏ lời an ủi họ và
dạy bẻ lá quanh đó nấu uống sẽ được lành bệnh. Lạ thay, một khi nghe theo thì
bệnh nhân đều bình phục, và già trẻ không còn thấy mệt mỏi”. Từ chữ Lá Vằng đọc
trại đi thành La Vang và trở thành Thánh địa. Hiện trong lễ hội rước kiệu tại
La Vang, lá chè Vằng vẫn được hái lá phơi khô bán cho sản phụ uống như một vị
thuốc bồi dưỡng sức khoẻ, gia tăng máu huyết, làm co rút tử cung của sản phụ
nhanh mà không đau bụng, làm sản phụ nhiều sữa, gương mặt tươi tắn hồng hào.
Thực ra thì cây Chè
vằng không chỉ được sử dụng ở Quảng trị, mà đã được nhiều dân tộc sử dụng từ
lâu đời như một thứ nước uống hàng ngày nhằm tăng sức lực, chống bệnh tật… đây
là một cây thuốc đặc biệt và là tri thức độc đáo của nhân dân ta.
Cây chè vằng mọc hoang
ở khắp nơi, là loại cây bụi nhỏ, đường kính thân không quá 6mm. Thân cứng, từng
đốt vươn dài hàng chục mét, phân nhánh nhiều. Vỏ thân nhẵn màu xanh lục. Lá mọc
đối hơi hình mác, phía cuống tròn, mũi nhọn, có ba gân chính nổi rõ ở mặt trên,
mép nguyên, càng lên ngọn, cành lá càng nhỏ. Hoa màu trắng mọc thành xim ở đầu
cành, quả hình cầu. Theo nhân dân, có 3 loại vằng, vằng lá nhỏ (vằng sẻ) dùng
tốt hơn cả, vằng lá to (vằng trâu) cũng được dùng, còn vằng núi không dùng làm
thuốc.
Tác dụng: Nghiên cứu
dược lý chứng minh lá chè Vằng có chứa alcaloid, nhựa, flavonoid, có tác dụng
kháng khuẩn, chống viêm, làm tăng nhanh tái tạo tổ chức, làm mau lành vết
thương và không độc. Bộ phận dùng làm thuốc là cành, lá tươi hoặc khô. Tác dụng
đặc biệt của chè vằng đối với phụ nữ sau sinh cũng được kiểm nghiệm. Là thuốc
bổ đắng dùng rất tốt cho phụ nữ đẻ, chè Vằng cũng có thể trị nhiễm khuẩn sau
đẻ, viêm hạch bạch huyết, viêm tử cung, viêm tuyến sữa, bế kinh, khí hư, thấp
khớp, nhức xương.
Kinh nghiệm dân gian
Việt Nam thường dùng lá chè Vằng đun lấy nước uống hay pha như pha trà để chữa
sưng vú, mụn nhọt; còn dùng chữa rắn rết hay côn trùng cắn; rễ cây vằng mài với
dấm thanh để làm hết mủ những ung nhọt đã nung mủ. Liều uống hàng ngày khoảng
20-30g lá khô sắc uống, nếu dùng ngoài không kể liều lượng.
Bệnh viện Thái Bình
dùng lá chè Vằng giã nát đắp vào nơi áp xe vú hoặc giã lá với cồn 50 độ rồi đắp
vào nơi áp xe ngày 3 lần, đêm 2 lần. Thời gian điều trị thường là 1 ngày đến 1
tuần tùy theo bệnh nặng hay nhẹ và được bắt đầu chữa bằng lá chè vằng sớm hay
muộn, trung bình 1,5 đến 2 ngày. Ngoài tác dụng kháng khuẩn, chống viêm, chè
Vằng được sử dụng dưới dạng đồ uống có tác dụng giải nhiệt, giải khát, bổ gan,
lợi mật, kích thích tiêu hoá, tăng cường tuần hoàn máu, giảm béo, lợi sữa rõ
rệt. Nước chè Vằng uống ban đầu có vị hơi đắng, sau thấm ngọt, tính mát và
lành. Điều đặc biệt là dùng được cho cả nam giới. Dùng chè Vằng đều đặn thấy
bụng nhỏ, mỡ máu hạ, người ấm, huyết áp ổn định và ăn ngủ rất tốt.
Đặc biệt, Trường Đại
học Dược Hà nội cũng có nhiều đề tài nghiên cứu về chè Vằng như đề tài: Tác
dụng chống nhiễm khuẩn của cây Chè Vằng mọc ở Quảng Nam – Đà Nẵng. Nghiên cứu
này được áp dụng điều trị ở 254 sản phụ và cho nhiều kết quả đáng chú ý. Ví dụ
như không dùng thuốc kháng sinh mà chỉ dùng chè Vằng trong trường hợp đẻ
thường, giảm 50% thuốc kháng sinh trong trường hợp đẻ khó…Các sản phụ khi dùng
chè Vằng rất lợi sữa, người chóng khỏe, các cơ bụng, cơ tử cung co lên nhanh
chóng, ăn ngon miệng. Các GS.TS trường Dược cũng đã bào chế thử cao chè Vằng,
thuốc từ chè Vằng cho kết quả rất tốt.
Phân biệt chè vằng và lá ngón
Chè vằng dễ nhầm lẫn
với lá ngón (Gelsemium elegans Benth.), một loại cây rất độc (thuốc độc bảng
A), không chỉ vì cây chè vằng đôi khi còn được gọi là cây lá ngón, mà còn vì
hình dạng bên ngoài, thân, cành chè vằng tương đối giống với thân cành lá ngón,
nhất là khi đã chặt khỏi gốc và bỏ hết lá. Cây chè vằng có thể phân biệt với
cây lá
ngónnhờ vào đặc điểm lá, hoa và quả. Lá chè vằng có 3 gân dọc trong
đó 2 gân bên uốn cong theo mép lá, rõ rệt. Hoa chè vằng màu trắng với mười cánh
hoa trong khi hoa lá ngón mọc thành chùm, phân nhánh nhiều lần (từ 2 đến 3 lần)
màu vàng. Quả chè vằng hình cầu cỡ hạt ngô, chín màu vàng, có một hạt rắn chắc
trong khi quả cây lá ngón hình trụ (khoảng 0,5x1cm), khi chín tự mở, nhiều hạt
(tới 40 hạt), nhỏ, hình thận, có diềm mỏng, phát tán theo gió.
Đã
có nhiều cái chết thương tâm vì nhầm lẫn này. Điển hình năm 1993 đã có hơn bảy
người chết vì buôn bán lá chè Vằng. Vì vậy mặc dù chè Vằng là một cây thuốc rất
quý, nhất là cho phụ nữ sau khi đẻ nhưng nhất thiết phải cẩn thận khi mua dùng,
nên mua của những thầy lang uy tín, người thân thiết đã dùng chè Vằng lâu
năm…Tốt nhất nên mua sản phẩm từ cao chè Vằng do các GS.TS dược học bào chế và
được nhà nước cấp phép. Hiện trên thị trường có sản phẩm DƯỠNG MẪU KHANG có
thành phần là cao chè Vằng sẻ (loại Vằng tốt nhất được các GS.TS đại học dược
trồng theo tiêu chuẩn sạch) và Tam thất (còn gọi là Kim bất hoán) được các bác
sỹ sản phụ đánh giá cao về tác dụng. Việc phối hợp 2 dược liệu kinh điển dùng
cho phụ nữ sinh đẻ này đã đem lại tác dụng rõ rệt cho sản phẩm Dưỡng mẫu khang.
Hy vọng cây thuốc đặc sắc của Việt Nam này sẽ sớm có mặt ở nhiều nước,
đem lại niềm vui cho các bà mẹ trên toàn thế giới. Có thể lắm chứ!
GS.TS Nguyễn Duy Thuần
Cẩu tích
Cẩu tích, Cây lông cu
li - Cibotium barometz (L.) J. Sm., thuộc họ Cầu tích - Dicksoniaceae.
Mô tả: Cây có thân thường yếu, nhưng cũng có thể cao 2,5-3m. Lá
lớn có cuống dài 1-2m, màu nâu nâu, ở phía gốc có vẩy hình dải rất dài màu vàng
và bóng phủ dày đặc. Phiến dài tới 3m, rộng 60-80cm. Các lá lông chim ở phía
dưới hình trái xoan- ngọn giáo dài 30-60cm. Lá lông chim bậc hai hình dải -
ngọn giáo, nhọn lại chia thành nhiều đoạn thuôn, hẹp; mặt trên lá màu lục sẫm,
mặt dưới màu lục lơ; trục lá không lông; các gân của các lá chét bậc hai có
lông len. Ổ túi bào tử 1 hay 2, có khi 3 hay 4 ở về mỗi bên của gân giữa bậc 3;
các túi màu nâu nâu, có 2 môi không đều nhau; cái ở ngoài hình cầu, cái ở trong
hẹp hơn, thuôn.
Bộ phận dùng: Thân rễ - Rhizoma
Cibotii, thường gọi là Cẩu tích, Lông phủ ngoài thân rễ cũng được dùng.
Nơi sống và thu hái: Cây phân bố rất rộng rãi ở ven rừng phục hồi sau nương rẫy
và trên các tràng cây bụi hoặc nơi đất ẩm gần bờ khe suối, rừng núi ở khắp các
tỉnh từ Lào Cai. Hà Giang, qua Quảng Nam-Đà Nẵng đến Lâm Đồng. Thu hoạch thân
rễ quanh năm, tốt nhất vào mùa thu- đông, cắt bỏ rễ con và cuống lá, cạo hết
lông vàng để riêng. Rễ củ đã cạo hết lông, rửa sạch, thái phiến hay cắt từng
đoạn dài 4-10mm, phơi hay sấy khô. Cần bảo quản nơi khô ráo. Khi dùng tẩm dược
liệu với rượu để một đêm rồi sao vàng.
Thành phần hóa học: Thân rễ cẩu tích chứa tinh bột (30%) và aspidinol, lông
vàng ỏ thân rễ có tanin và sắc tố.
Tính vị, tác dụng: Cẩu tích có vị đắng ngọt, tính ấm, có tác dụng bổ can thận,
mạnh gân xương, trừ phong thấp. Người ta đã nghiên cứu tác dụng chống viêm, ức
chế chủ yếu giai đoạn viêm cấp tính, cả tác dụng gây động dục kiểu oestrogen.
Lông cẩu tích có tác dụng cầm máu có tính cơ học bằng cách hút huyết thanh của
máu và giúp cho sự tạo máu cục, làm cho máu chóng đông.
Công dụng, chỉ định và
phối hợp: Cẩu tích dung chữa
phong hàn, thấp tê đau lưng, nhức mỏi chân tay, khó cử động, đau dây thần kinh
toạ, chứng đi tiểu són không cầm, di tinh, bạch đới. Ngày dùng 10-20g dạng
thuốc sắc.
Lông vàng quanh thân rễ
dùng đắp ngoài chữa các vết thương chảy máu. Người ta thường để nguyên thân rễ
với 4 gốc cuống lá tạo hình con vật 4 chân có lông vàng (Kim mao Cẩu tích) rồi
phun rượu vào tạo ẩm cho lông mọc nhiều để lấy lông dùng cầm máu. Hoặc lấy đoạn
thân rễ có lông đem treo lên, thỉnh thoảng lại phun rượu để lông mọc tiếp.
Đơn thuốc:
1. Chữa phong thấp,
chân tay tê bại không muốn cử động Cẩu tích 20g, Ngưu tất 8g, Mộc qua 12g, Tang
chi 8g, Tùng tiết 4g, Tục đoan 8g, Đỗ trọng 8g, Tần giao 12g, Quế chi 4g, nước
600ml, sắc còn 250ml, chia 2 lần uống trong ngày.
2. Chữa thận hư, sống
lưng đau mỏi, đái luôn, vãi đái, bạch đới, di tinh: Dùng Cẩu tích 15g, Thục địa
12g, Đỗ Trọng dây 10g, Dây tơ hồng (sao) 8g, Kim anh 8g, sắc uống.
3. Chữa phong thấp đau
nhức khớp xương, tay chân yếu mỏi hoặc bại liệt co quắp: Dùng Cẩu tích 15g, Tục
đoạn 12g, Cốt toái bổ 12g, Đương quy 10g, Xuyên khung 4g, Bạch chỉ 4g, sắc
uống.
Ghi chú: Người thận hư mà có nhiệt, bí tiểu tiện hoặc nước tiểu vàng đỏ, không
nên dùng.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét